Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

TỈNH NGHỆ AN YÊU CẦU TRỤC XUẤT CHA ĐẠO ĐẶNG HỮU NAM


Ngày 07/10/2016 ông Lê Xuân Đi, Phó ch tch UBND tnh Ngh An ký Công văn s 7533/UBND-NC ni dung: “đ ngh C Giám mc Giáo phn Vinh chn chnh các hot đng mc v ca Linh mc Đng Hu Nam và không b trí Linh mc Đng Hu Nam tiếp tc hot đng mc v trên đa bàn Ngh An”.

Là mt Linh mc, được bà con giáo dân tin tưởng vy mà Đng Hu Nam li đi ngược nhng gì mà giáo hi quy đnh. Thay vì hot đng mc v bình thưng, “sng tt đi, đp đo” thì Cha Nam li liên tc có các hot đng chng phá chính quyn, bôi nh dân tc. Li dng các cuc l ca mt s nhà th giáo x, Linh mc Nam rao ging, kích đng, nói xu Đng, xuyên tc bn cht ca chế đ, ph nhn nhng thành qu cách mng mà đt nước và nhân dân đã đt được. Phn ln các v vic phc tp v an ninh, trt t xy ra trên đa bàn giáo phn Vinh đu có bàn tay ca Đng Hu Nam. T vic xúi by giáo dân tn công thy cô, cướp đt Trường mm non x Xuân Kiu (Nghi Lc); xuyên tc s tht v tình hình chính tr ca đt nước, truyn bá ch nghĩa cc đoan, chia r giáo dân vi giáo dân, gia giáo dân vi giáo hi; chia r giáo hi vi cng đng xã hi, cho đến đng ra làm th lĩnh kích đng giáo dân biu tình gây ri trt t công cng khp nơi.

Không ch có vy, Cha Nam còn t chc cho người dân đi khiếu kin Formusa, bt chp cách gii quyết mà chính quyn đưa ra. Thc tế cho thy, các cuc khiếu kin, biu tình mà Cha Nam kích đng chng có kết qu tt đp gì, thm trí còn gây nh hưởng ln ti an ninh, trt t. Nghe theo li kích đng ca Linh mc Nam, bà con giáo dân t tp kéo lên UBND tnh, thm chí còn đp phá, chi bi, làm nh hưởng ti hot đng bình thường ca chính quyn; bên cnh đó còn t chc ăn ung, vt rác ba bãi làm ô nhim môi trường. Tuy nhiên, nhng v khiếu kin, biu tình này đã mang li cho Linh mc Nam đt được mc đích ca mình, đó là đánh bóng tên tui và kiếm mt khon không nh t “các nhà hot đng dân ch”, các thế lc bên ngoài hà hơi, tiếp sc. Hãy nhìn vào người đng đu các giáo x hay các giáo phn khác, ti sao h nghe theo cách gii quyết ca chính quyn, và giáo dân nơi đây vn có cuc sng m no, hnh phúc. Vy mà Linh mc Nam li làm cho giáo dân ca mình lâm vào cnh khn đn như vy.


Chính t
các hot đng ca Linh mc Nam mà chính quyn Ngh An đ ngh giáo hi “không b trí Linh mc Đng Hu Nam tiếp tc hot đng mc v trên đa bàn tnh Ngh An”.
Có th
nói, đây là mt quyết đnh tương đi chính xác và kp thi. Th hi mt k có nhng hành đng ngang ngược làm nh hưởng đến an ninh, trt t ca mt đa phương thì có nên cho hn ta tiếp tc hot đng ti đây hay không?
Chính vì v
y, đ đm bo an ninh trt t ti đa phương và đ yên tâm làm ăn sinh sng thì bà con hãy ng h cách gii quyết ca Chính quyn. Hãy “sng tt đi đp đo” và cùng nhau xây dng quê hương, đt nước giàu mnh.

Nguồn: Nguoicondatme

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

AN NINH VĂN HÓA TƯ TƯỞNG

Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch coi “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá là mũi đột phá, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận, tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, tiến tới chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có phương sách đấu tranh phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết.

Không mấy khó hiểu khi các thế lực thù địch sử dụng con bài tư tưởng, văn hóa làm đòn tấn công phủ đầu, dọn đường thực hiện các thủ đoạn khác để chống phá cách mạng nước ta. Bởi, chúng hiểu quá rõ vai trò to lớn của tư tưởng, văn hóa trong chỉ đạo hành động của con người và định hướng quá trình đi lên của một quốc gia, dân tộc. Thực tế cho thấy, nền tảng văn hóa, tư tưởng vững chắc sẽ làm cho con người luôn gắn bó với cộng đồng, tạo sức mạnh nội sinh, sự đồng thuận xã hội, truyền thống yêu nước, thương nòi, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu tư tưởng, văn hóa không vững, sẽ dẫn đến sự thiếu đồng nhất, phân rã về tư tưởng trong xã hội; lai căng, xuống cấp về bản sắc văn hóa; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; người dân thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và con đường đi lên của dân tộc. Và điều đó sẽ dẫn đến hậu quả: chính trị khủng hoảng, kinh tế trì trệ, pháp luật kém hiệu lực, nền tảng xã hội lung lay, tạo mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch “tự tung tự tác” bằng những mưu mô, thủ đoạn để chuyển hóa, thay đổi chế độ. Tình trạng đó sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và trong xã hội, gây nên những tổn thất khó lường đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và vận mệnh của Đảng, chế độ. Kịch bản này đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX.
Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là không thay đổi. Bởi mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Để đạt điều đó, chúng từng bước phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội với thủ đoạn tuyên truyền, rằng: “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thuộc về quá khứ, một quá khứ thật oanh liệt, đầy hào hùng và những bi kịch, mà không thuộc về hiện tại, lại càng không thuộc về tương lai”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nên không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”, v.v. Đồng thời, tăng cường công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng lý sự rằng, con đường đó “không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển” và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Càng gần đến thời điểm tiến hành Đại hội lần thứ XII của Đảng thì chiến dịch chống phá của các thế lực thù địch càng được đẩy lên cao. Lợi dụng việc Đảng ta tổ chức lấy ý kiến trong Đảng và nhân dân về dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII, chúng tập trung chống phá đường lối, Cương lĩnh, nhân sự cấp cao của Đảng và cho rằng “Văn kiện Đại hội XII sắp tới chỉ mang tính lý luận hình thức, không dám chỉ ra khuyết điểm, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, không giải quyết được những bức xúc của nhân dân, đặc biệt là vấn đề dân chủ, nhân quyền và phòng, chống tham nhũng”. Từ đó, đòi hỏi được thành lập nhóm “đặc biệt” có toàn quyền chuẩn bị dự thảo, báo cáo chính trị và đề xuất những ý kiến theo nhận thức chủ quan mà không câu nệ vào Hiến pháp, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Thông qua mạng xã hội, với cái gọi là “Chân dung quyền lực”, chúng bịa đặt, thổi phồng thiếu sót, khuyết điểm, bôi nhọ danh dự cán bộ lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, gây sự phân tâm, nghi ngờ, phai nhạt niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đó, các thế lực thù địch còn thúc đẩy “dân chủ hóa” hoạt động Quốc hội, lợi dụng “cải cách hành chính” nhằm chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta thông qua việc đòi “cải tổ hệ thống chính trị, cải tổ Chính phủ, cải tổ cách thức điều hành đất nước”; tăng cường quảng bá “3 trụ cột”: xã hội dân sự, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền theo hướng tư bản chủ nghĩa, làm cho Việt Nam chệch con đường xã hội chủ nghĩa.
Với mưu đồ chuyển hóa hệ thống thang giá trị trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam, chúng phủ nhận Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) khi cho rằng, đánh giá thành tựu 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) là hoàn toàn “thiếu cơ sở” vì thực tế cho thấy ở Việt Nam, đạo đức xã hội đang bị “băng hoại nghiêm trọng”, các quyền tự do báo chí, ngôn luận, biểu tình của người dân đã bị Đảng “khất nợ”, v.v. Tranh thủ những yếu tố khách quan xuất hiện trong bối cảnh nước ta đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các thế lực thù địch đẩy mạnh truyền bá các “giá trị” văn hóa, lối sống phương Tây, hệ tư tưởng tư sản; xóa bỏ truyền thống văn hóa, chuẩn mực đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, làm phai nhạt bản sắc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thông qua con đường hợp tác trên các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, quốc phòng - an ninh, báo chí, truyền thông, hội thảo, triển lãm, tài trợ,… để từng bước hình thành các tổ hợp, tập đoàn, câu lạc bộ, nhóm nhà báo, báo tư nhân, trang thông tin điện tử, cơ quan ngôn luận của “lực lượng dân chủ” ở Việt Nam. Lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chúng xuyên tạc thực trạng xã hội, khoét sâu yếu kém, làm ra vẻ như ở Việt Nam đang có khủng hoảng về kinh tế - xã hội, tình trạng tham nhũng tràn lan, không kiểm soát được, v.v. Trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật, báo chí, xuất bản, chúng ra sức vận động thành lập “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Công đoàn độc lập”; tán phát một số cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại, như: “Con đường Việt Nam” của Trần Huỳnh Duy Thức, “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, “Đèn cù” của Trần Dĩnh,… nhằm “bôi nhọ” đời tư của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, v.v.
Chúng nhen nhóm hình thành, củng cố các tổ chức, “liên tôn” để tập hợp lực lượng, tung tin xuyên tạc Việt Nam “vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến” và kích động quần chúng gây rối, chống đối chính quyền. Đồng thời, khuyến khích tư tưởng hẹp hòi, tâm lý kỳ thị dân tộc, hướng đồng bào về cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”, “Nhà nước Đề ga Mông - ta - nha”, “Vương quốc Khơ me Crôm”; đẩy mạnh các hoạt động tài trợ, đào tạo, nhen nhóm chuẩn bị lực lượng chống đối, thúc đẩy di cư tự do, vượt biên trái phép, khiếu kiện đền bù giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai, hoạt động của các phần tử đội lốt tôn giáo,… gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đáng chú ý là, chúng tăng cường liên kết giữa các tổ chức phản động trong nước với nước ngoài để dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng, hình thành phe phái đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, như: in-tơ-nét, viễn thông, đài phát thanh nước ngoài, phát hành ấn phẩm, tờ rơi,… để đăng tin, bài, tán phát tài liệu chống phá ta, nhất là vào dịp Đảng ta tiến hành đại hội các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng.
Đối với lực lượng vũ trang, các thế lực thù địch xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam còn đứng vững là do vẫn nắm được lực lượng vũ trang, nếu đánh đổ được lực lượng này, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mất chỗ dựa, khi đó chế độ Cộng sản Việt Nam sẽ tan rã giống như Đông Âu và Liên Xô trước đây”, nên chúng ra sức tác động chuyển hóa, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Chúng tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, làm suy giảm lòng tin, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; kích động gây rối nội bộ, chia rẽ lực lượng vũ trang với nhân dân, Quân đội với Công an và các tổ chức, đoàn thể xã hội khác. Không những thế, chúng còn đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, từng bước thực hiện “dân sự hóa Bộ Quốc phòng”, “hành chính hóa quân sự”, nhằm biến Quân đội thành đội quân chuyên nghiệp, nhà nghề, phi chính trị. Cùng với đó, chúng đẩy mạnh tuyên truyền, xâm nhập các loại văn hóa độc hại, lối sống cơ hội, thực dụng, ích kỷ, hẹp hòi, vô cảm vào trong các đơn vị, đầu độc đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, với mục đích hình thành lối sống tiêu cực, đi ngược lại thuần phong, mỹ tục của dân tộc và bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng - “Bộ đội Cụ Hồ”, v.v.
Có thể khẳng định, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, mà trọng tâm là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là một âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, thâm độc. Xét về nội dung tuy không mới, nhưng về thủ đoạn, cách thức tiến hành thì chúng có sự điều chỉnh. Nguy hiểm hơn, hoạt động tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch tập trung vào đối tượng chủ yếu là thế hệ trẻ, các doanh nhân, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo; đi sâu vào vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống - nơi mà trình độ dân trí so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp, đời sống vật chất, tinh thần còn nhiều khó khăn. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng, bản sắc văn hóa của dân tộc. Đối với các đơn vị Quân đội, cần làm tốt việc quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ của các đơn vị; nắm vững định hướng chính trị, tư tưởng; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì và vai trò của ban chỉ đạo chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở từng cấp. Toàn quân tập trung giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ; giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân, truyền thống vẻ vang của Quân đội trong từng thời kỳ; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng thời, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh; nâng cao sức “tự đề kháng”, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đóng vai trò nòng cốt trong giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Nguồn: http://tapchiqptd.vn


Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016

MỸ KHÔNG COI VIỆT TÂN LÀ TỔ CHỨC KHỦNG BỐ

Căn cứ trên lịch sử và bản chất của chính sách ngoại giao thực dụng Hoa Kỳ, thì có thể dễ hiểu vì sao Việt Tân là một tổ chức khủng bố Việt Nam, cùng với các tổ chức khủng bố khác vẫn có thể sống nhăn trên xứ Mỹ.

Về quan hệ quốc tế, quyền tự quyết của quốc gia trong việc thừa nhận hay không thừa nhận một hoạt động quốc tế nào đó là quyền của mỗi quốc gia. Nếu Mỹ không công nhận Việt Tân là khủng bố vẫn chỉ là tiếng nói của một quốc gia không ảnh hưởng đến các quốc gia khác và càng không ảnh hưởng đến quyết định của Việt Nam. 

Mặt khác, Việt Tân là một tổ chức được thành lập sau khi Việt Nam giành độc lập thống nhất đất nước và những người tháo chạy khỏi Việt Nam đã từng được Mỹ hậu thuẫn trong chiến tranh của Việt Nam. Điều này có thể thấy, Việt Tân không làm ảnh hưởng đến nền an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của Mỹ cũng như độc lập, chủ quyền của Mỹ. Một lý do khác, chủ nghĩa đế quốc vẫn luôn tìm cách can thiệp nhằm xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nên Việt Tân vẫn là chỗ dựa duy nhất để thực hiện âm mưu này.


Vậy, việc Mỹ không thừa nhận Việt Tân là khủng bố ở Mỹ cũng đúng thôi và như chúng tôi đã nói, việc Mỹ thừa nhận chỉ hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia không có ảnh hưởng gì đến các quốc gia khác và Việt Nam.

Việt Nam khẳng định Việt Tân là khủng bố có đầy đủ chứng cứ sau 3 đợt Đông tiến do Việt Tân tổ chức đều bị cơ quan chức năng Việt Nam ngăn chặn. Đồng thời, hành vi tội ác giết người diệt khẩu của Việt Tân vẫn đang là mối hiểm họa lớn cho kiều bào của Việt Nam ở các quốc gia.

Quan điểm của Việt Nam là hành vi pháp lý của Việt Nam việc một quốc gia công nhận hay không công nhận là quyền pháp lý của các quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với công ước Quốc tế của liên hợp quốc về quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế.

(Chiasekienthuc.net)


Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

LÒNG CĂM THÙ CỘNG SẢN CỦA NGUYỄN THÁI HỢP

Lâu nay, tín đồ Công giáo Giáo phận Vinh nói riêng và cả nước nói chung cứ chắc mẫm rằng đức Giám mục của họ đã hết mình vì đức tin và cuộc sống của họ. Đấy là sự ngộ nhận do họ chẳng thể biết gì về thân phận và chí hướng của của ông Nguyễn Thái Hợp.

Ông Nguyễn Thái Hợp sinh ngày 02-02-1945 tại Giáo xứ Làng Anh, xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Ông là con út trong một gia đình Công giáo gồm 6 người con (3 trai và 3 gái). Cha ông là Nguyễn Hữu Thịnh mà dân trong vùng gọi là Cả Thịnh vốn là một hương lý thời thuộc Pháp. Cái thời ấy, hương, lý chỉ là một chức dịch do dân cử ra để lo việc xã, việc làng và ông Cả Thịnh cũng không có gì đặc biệt. Nhưng không hiểu sao, trong cải cách ruộng đất ông Cả Thịnh bị "Đội" lôi lên núi Đá Dựng ở xã Nghi Xuân gần đó và bị thủ tiêu. Nghe nói, người nhà ông Hợp trong đêm lên núi trộm xác đem về chôn, đau thương lắm. Khi đó ông Hợp mới 9 tuổi.

9 tuổi, ông Hợp chưa ý thức được cha ông chết vì lẽ gì nhưng ông biết cha ông đã bị chính quyền cách mạng giết. Nếu được lớn lên trong môi trường của Miền Bắc để thấy chính phủ nhận lỗi và sửa sai chắc ông cũng dần nguôi ngoai như hàng ngàn người khác chịu kiếp nạn rủi ro như gia đình ông. Nhưng đằng này, vào Nam ông được đắp bồi thêm lòng thù hận bằng những "nạn nhân công sản Bắc Viêt", "nạn nhân bị công sản đấu tố bức hại" dưới thời Ngô Đình Diệm, Mỹ - Thiệu làm cho ông nung nấu thêm lòng căm thù cộng sản.

Sau cuộc cải cách ruộng đất và cái chết của chồng, năm 1954, theo dòng người di cư bà Bạch Thị Tao (thân mẫu ông Hợp) dẫn 6 đứa con (3 trai, 3 gái) vào miền Nam Việt Nam. Chế độ Ngô Đình Diệm xếp gia đình ông Hợp là “nạn nhân của Cộng sản Bắc Việt”, bị “đấu tố và bức hại” trong cải cách ruộng đất nên nhận được nhiều sự ưu ái. Dòng Chúa cứu thế đã để mắt đến và “chăm sóc” kỹ lưỡng cho một đứa con chúa có nhiều "tiềm năng".

Mười năm được nuôi dưỡng qua các trường công giáo, ngày 15-8-1964, Nguyễn Thái Hợp được đưa vào học giáo lý Công giáo tại Tập viện dòng Đa Minh Vũng Tàu, lần lượt tốt nghiệp các khoa triết học và thần học tại các Học viện dòng Đa Minh tại Vũng Tàu và Thủ Đức. Vừa tốt nghiệp trường dòng, năm 1968 Nguyễn Thái Hợp lại được “Nhà Chung” đưa đi học Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông ta tốt nghiệp với tấm bằng Cử nhân Triết học Đông Phương năm 1972. 18 năm nhà thờ đã đắp điếm, gọt giũa ông nên một sản phẩm không biết gì khác ngoài Chúa và phụng sự Chúa. 

Chưa dừng lại ở đó, sau khi được thụ phong Linh mục tại Sài Gòn vào năm 1972, Nguyễn Thái Hợp được giáo hội cử đi du học tại Đại học Fribourg (Thụy Sĩ) và có được tấm bằng tiến sĩ Triết học phương Tây vào năm 1978 (3 năm sau ngày miền Nam giải phóng). Từ năm 1978 đến năm 1979, ông ta học tiếp khoa Kinh tế chính trị tại Đại học Genève, Thụy Sĩ. Sự nghiệp học hành dừng lại ở đó, sau 35 năm.

35 năm đèn sách và sự kèm cặp của Chúa, thần học và triết học phương Tây đã trở thành máu thịt của ông, đồng thuận với điều đó là lòng căm thù, chí bài trừ Cộng sản của ông được vun cao.

Cũng trong thời gian này, với sự bao bọc nâng đỡ của giáo hội, 2 anh trai của ông Hợp đã nhanh chóng thành danh, thăng tiến đến hạng sỹ quan cao cấp của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Một đại gia đình chống cộng hoàn hảo.

Tuy nhiên, vào những năm 70, tương quan thế và lực của cách mạng đã khác. Nhận thấy thất bại tất yếu đang đến, quan thầy Mỹ đã bắt đầu tính toán đến "kế hoạch hậu chiến". Những mạng lưới lực lượng cho kế hoạch hậu chiến được ráo riết tổ chức. Trong đó, Thiên chúa giáo là bộ phận chiến lược vì có tổ chức chặt chẽ, có lực lượng rộng rãi và không xuất đầu lộ diện như quân quyền. Lịch sử đã chứng minh, sau ngày giải phóng miền Nam, liên tục và khắp nơi nhiều tổ chức phản động do các chủ chăn Thiên chúa cầm đầu diễn ra.

Trường hợp của Nguyễn Thái Hợp là đặc biệt. Không lộ diện trong chiến tranh, suốt đời đèn sách ở nước ngoài là vỏ bọc tốt cho những tính toán xa hơn. Từ năm 1981 đến năm 1994 ông được đưa về làm giảng sư tại Phân khoa Thần học thuộc Học viện Thần học Gioan XXIII, trải qua các chứ vụ giám đốc học vụ rồi Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bartolomé de Las Casas tại Lima, Péru. Trong thời gian này, ông còn tham gia giảng dạy và tham dự Hội nghị Thiên chúa giáo tại nhiều nước châu Mỹ Latinh như Brazil, Colombia, Costa Rica, Venezuela, Bolivia, Cộng hòa Dominicana… Năm 1994 được phong Tiến sĩ danh dự về Thần học luân lý tại Phân khoa Thần học Đức Mẹ Lên Trời ở Sao Paulo, Brazil.

Năm 1995 đã ghi một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Thái Hợp. Từ Brazil, ông ta được đưa sang Mỹ qua ngả Canada để dự một khóa học ngắn hạn về “đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền” và phương thức tiến hành “cách mạng sắc màu” do Quỹ quốc gia vì dân chủ Mỹ (National Endowment for Democracy- NED) và Quỹ phát triển quốc tế Mỹ (USAID) tài trợ. Quỹ này đảm nhận phần hoạt động hợp pháp bên ngoài của các chiến dịch bí mật của CIA. Bắt đầu từ đây, Nguyễn Thái Hợp được sử dụng như một con bài chính trị trong mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam mà CIA thực hiện như một phần tiếp theo của kế hoạch hậu chiến.

Tuy nhiên, CIA không vội đưa Nguyễn Thái Hợp về Việt Nam. Để che giấu tung tích về thời gian 1 năm được huấn luyện tại Mỹ, trong 8 năm từ 1996 đến 2000, Nguyễn Thái Hợp được bố trí giảng dạy tại Phân khoa Xã hội học thuộc Đại Học Giáo Hoàng Thánh Tôma Aquinô, Roma, một phân khoa bổ trợ bình thường ít được chú ý.

Năm 2000, khi những cuộc "cách mạng màu" ở một số nước tỏ ra có hiệu quả, Nguyễn Thái Hợp về Việt Nam nhưng không giữ chức sắc nào trong giáo hội. Giấu mình trong vỏ bọc Giám đốc học vụ của Trường dòng Đa Minh và là thành viên của Ủy ban Giáo lý đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông ta chỉ tham gia những hoạt động tăng cường đức tin và từ thiện xã hội nhằm gây lòng tin trong dư luận và tín đồ Thiên chúa.

Dưới bàn tay đạo diễn của Nguyễn Thái Hợp, "Nhóm Đức tin và Văn hóa", lớp “Thần học giáo dân”, "Lễ Hội Giáng Sinh cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt", "Phòng khám từ thiện Mai Khôi để chăm sóc và chữa trị những bệnh nhân HIV/AIDS", những chuyến đi khám bệnh cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa và vùng cao... đã tô vẽ thêm bộ mặt nhân đức của một đức cha.

Với chức vụ Giám đốc học vụ, Nguyễn Thái Hợp liên tục đi rao giảng tại Trung tâm Học vấn Đa Minh, Gò Vấp, Học viện Liên dòng Phaolô Nguyễn Văn Bình, Học viện La San, Đại chủng viện Cái Răng, Đại chủng viện Sao Biển, Đại chủng viện Vinh Thanh, Học viện Fransisco .v.v… Trong quá trình rao giảng, ông ta luôn che giấu thái độ chính trị và xuất thân của mình, thực hiện chiến lược “náu mình chờ thời”. Và thời cơ đã đến.

Ngày 13-5-2010, Nguyễn Thái Hợp được Giáo hoàng Benedictus XVI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Vinh thay cho Giám mục Cao Đình Thuyên nghỉ hưu. Lễ tấn phong của ông ta được tổ chức linh đình ngày 23-7-2010 với hàng vạn người dân theo Thiên Chúa giáo tham dự. 

Từ ngày được bổ nhiệm, Nguyễn Thái Hợp nhanh chóng thăng tiến trong Giáo hội Công giáo Việt Nam nhờ sự “năng động” của mình. Tại Đại hội lần thứ XI của Hội đồng Giám mục Việt Nam họp tháng 10 năm 2010, "Ủy ban Công lý và Hòa bình" thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam do Nguyễn Thái Hợp đề xuất được thành lập. Ông ta được bầu làm chủ tịch của ủy ban này trong nhiệm kỳ đầu tiên 2010-2013 và được tái cử trong nhiệm kỳ 2013-2016. 

Cũng từ ngày được bổ nhiệm Giám mục Giáo phận Vinh, có lực lượng trong tay, “cái kim trong bọc” Nguyễn Thái Hợp bắt đầu lòi ra. Dựa vào thần quyền, giáo lý, trói chặt các chủ chăn và tín đồ trong tay mình, ông ta tăng cường những hoạt động chống phá quyết liệt đối với Nhà nước Việt Nam và chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam. Tiền bạc từ nước ngoài đổ về yểm trợ. Giáo phận Vinh từ chỗ bình yên trở nên cuồng loạn. Những Mỹ Yên, Phú Yên, Kỳ Yên, Đông Yên... trở thành "Bất Yên". Những cuộc biểu tình cứ diễn ra mỗi sáng Chủ nhật sau lễ cầu nguyện, những là cờ nước Chúa dương cao và gậy gộc, đất đá quất vào, ném vào lực lượng giữ gìn trật tự.

Đến đây, chắc chính quyền Nghệ - Tĩnh đã ngộ ra cái bản chất thâm thù cộng sản của vị Giám mục mà bấy lâu nay họ hy vọng là người có học có thể hợp tác được cho đường hướng "tốt đời đẹp đạo”.

Còn những tín đồ Công giáo, dẫu biết rằng đất nước có bình yên thì mới xây dựng và phát triển được. Nhà thờ chẳng mang lại cho họ cơm áo mà chỉ đóng góp và đóng góp nhưng họ vẫn không dễ dàng thoát ra khỏi cái vòng kim cô của thần quyền giáo lý. Đến nhà thờ mỗi buổi sáng chủ nhật là việc như cơm ăn, nước uống hàng ngày của họ, là bổn phận của họ. Nhưng đã đến nhà thờ rồi mà cha bảo đi Formosa là không thể không đi. Nhiều người trong số họ đến đó chỉ để đứng từ xa, chỉ số ít là hung hăng nhưng họ đã tạo nên đám đông.

Ông Nguyễn Thái Hợp quả là cao tay và đã không phụ công của quan thầy.

Nguồn: Mõ Làng